Hoạt động núi lửa

Hoạt động núi lửa

Hoạt ảnh mô phỏng các loại phun trào núi lửa khác nhau.

Địa lý

Keywords

núi lửa, hoạt động magma, sự phun trào núi lửa, hoạt động núi lửa, mắc ma, hoạt động sau núi lửa, buồng magma, kiến tạo địa tầng, động đất, dung nham, sự hình thành núi, Núi Vesuvius, Thiên nhiên, môn địa lý, mảng kiến ​​tạo, vỏ Trái đất, thảm họa

Bổ sung liên quan

Scenes

Núi lửa và mảng kiến tạo

Hoạt động núi lửa là một quá trình magma bị đẩy ra khỏi lớp vỏ của Trái Đất ra bề mặt. Núi lửa không ngẫu nhiên mà có; chúng tạo thành những chuỗi dài ở ranh giới của các mảng kiến tạo.
Hoạt động núi lửa có vai trò quan trọng trong việc hình thành núi. Magma là đá bị nóng chảy thành màu đỏ dưới bề mặt Trái đất. Magma trào lên bề mặt được gọi là dung nham, và núi lửa được hình thành nơi nào mà magma trào tới bề mặt. Núi lửa có thể được phân biệt dựa theo cách nó phun trào, bao gồm nổ, tràn hỗn hợp.

Phun trào nổ là đặc trưng của núi lửa hình nón. Loại phun trào này đi kèm với hơi nướckhí thoát ra bề mặt qua miệng núi lửa với những vụ nổ lớn, và nó tạo ra một cột phun trào caoluồng mạt vụn núi lửa. Gió có thể làm lan rộng đám mây bụi tro trên một khu vực lớn. Luồng mạt vụn núi lửa lăn xuống nón núi lửa với tốc độ cao. Đây là loại phun trào núi lửa tàn khốc nhất. Núi Krakatoa, Núi Pelée Núi St Helens là những ví dụ điển hình nhất về núi lửa có kiểu phun trào này.

Phun trào chảy là đặc trưng của núi lửa hình khiên. Loại phun trào này không kèm theo những vụ nổ hay luồng mạt vụn núi lửa; chất duy nhất nổi lên bề mặt là dung nham lỏng. Khi dung nham rắn lại, nó tạo ra một nón núi lửa. Ví dụ của các núi lửa có kiểu phun trào chảy này là núi Mauna Kea núi Mauna Loa, và cả hai đều thuộc quần đảo Hawaii.

Phun trào hỗn hợp là đặc trưng của núi lửa dạng tầng. Loại phun trào này đi kèm những vụ nổ và cả dòng dung nham. Nón núi lửa bao gồm các các lớp tro núi lửa, hoặc các mảnh vụn, xen kẽ với dung nham hóa rắn. Các ví dụ nổi tiếng nhất của núi lửa dạng tầng là Stromboli, núi Etna Cotopaxi.

Sau khi núi lửa phun trào, ta có thể thấy các hoạt động sau phun trào, mà cơ bản là hơi nướckhí được tạo thành từ các chất khác nhau thoát ra các lỗ hơi hay còn được gọi là miệng phun khí.

Miệng phun khí lưu huỳnh là một loại miệng phun khí; nó là một lỗ mở trên lớp vỏ Trái Đất thoát ra các loại khí lưu huỳnh.

Miệng phun khí các-bon là miệng thải ra khí các-bon đi-ô-xít. Một miệng phun khí các-bon có thể gọi là 'khô' nếu nó chứa các-bon đi-ô-xít hoặc 'ướt' nếu nó chứa nước có ga.

Miệng phun nước là một mạch nước phun ra nước nóng định kì. Điều này xảy ra bởi vì nước thấm vào và tích tụ trong các hốc nhỏ bên dưới mặt đất, sau đó bắt đầu sôi lên do sức nóng của magma, và cuối cùng phun trào.

Hoạt động núi lửa ở các khu vực đất sét sẽ kèm theo 'núi lửa bùn', nơi mà các loại khí được giải phóng bởi bùn lỏng dưới dạng bọt khí.

Các vụ phun trào núi lửa tàn khốc nhất làm phán tán một lượng lớn tro núi lửa.
Trong vụ phun trào Krakatoa năm 1883, 18 km khối tro núi lửa đã bị phân tán, trong khi vụ phun trào núi Tambora năm 1815, một trong những vụ phun trào lớn nhất trong lịch sử nhân loại, tổng cộng 80 km khối những mãnh tro bụi này đã lan rộng trên một khu vực rộng lớn.
Những vụ phun trào lớn này có tác động lên toàn địa cầu, như bầu khí quyển, khí hậuđộng vật hoang dã trên Trái Đất.

Các vụ phun trào núi lửa lớn nhất

Hoạt động núi lửa là một quá trình magma bị đẩy ra khỏi lớp vỏ của Trái Đất ra bề mặt. Núi lửa không ngẫu nhiên mà có; chúng tạo thành những chuỗi dài ở ranh giới của các mảng kiến tạo.
Hoạt động núi lửa có vai trò quan trọng trong việc hình thành núi. Magma là đá bị nóng chảy thành màu đỏ dưới bề mặt Trái đất. Magma trào lên bề mặt được gọi là dung nham, và núi lửa được hình thành nơi nào mà magma trào tới bề mặt. Núi lửa có thể được phân biệt dựa theo cách nó phun trào, bao gồm nổ, tràn hỗn hợp.

Phun trào nổ là đặc trưng của núi lửa hình nón. Loại phun trào này đi kèm với hơi nướckhí thoát ra bề mặt qua miệng núi lửa với những vụ nổ lớn, và nó tạo ra một cột phun trào caoluồng mạt vụn núi lửa. Gió có thể làm lan rộng đám mây bụi tro trên một khu vực lớn. Luồng mạt vụn núi lửa lăn xuống nón núi lửa với tốc độ cao. Đây là loại phun trào núi lửa tàn khốc nhất. Núi Krakatoa, Núi Pelée Núi St Helens là những ví dụ điển hình nhất về núi lửa có kiểu phun trào này.

Phun trào chảy là đặc trưng của núi lửa hình khiên. Loại phun trào này không kèm theo những vụ nổ hay luồng mạt vụn núi lửa; chất duy nhất nổi lên bề mặt là dung nham lỏng. Khi dung nham rắn lại, nó tạo ra một nón núi lửa. Ví dụ của các núi lửa có kiểu phun trào chảy này là núi Mauna Kea núi Mauna Loa, và cả hai đều thuộc quần đảo Hawaii.

Phun trào hỗn hợp là đặc trưng của núi lửa dạng tầng. Loại phun trào này đi kèm những vụ nổ và cả dòng dung nham. Nón núi lửa bao gồm các các lớp tro núi lửa, hoặc các mảnh vụn, xen kẽ với dung nham hóa rắn. Các ví dụ nổi tiếng nhất của núi lửa dạng tầng là Stromboli, núi Etna Cotopaxi.

Sau khi núi lửa phun trào, ta có thể thấy các hoạt động sau phun trào, mà cơ bản là hơi nướckhí được tạo thành từ các chất khác nhau thoát ra các lỗ hơi hay còn được gọi là miệng phun khí.

Miệng phun khí lưu huỳnh là một loại miệng phun khí; nó là một lỗ mở trên lớp vỏ Trái Đất thoát ra các loại khí lưu huỳnh.

Miệng phun khí các-bon là miệng thải ra khí các-bon đi-ô-xít. Một miệng phun khí các-bon có thể gọi là 'khô' nếu nó chứa các-bon đi-ô-xít hoặc 'ướt' nếu nó chứa nước có ga.

Miệng phun nước là một mạch nước phun ra nước nóng định kì. Điều này xảy ra bởi vì nước thấm vào và tích tụ trong các hốc nhỏ bên dưới mặt đất, sau đó bắt đầu sôi lên do sức nóng của magma, và cuối cùng phun trào.

Hoạt động núi lửa ở các khu vực đất sét sẽ kèm theo 'núi lửa bùn', nơi mà các loại khí được giải phóng bởi bùn lỏng dưới dạng bọt khí.

Các vụ phun trào núi lửa tàn khốc nhất làm phán tán một lượng lớn tro núi lửa.
Trong vụ phun trào Krakatoa năm 1883, 18 km khối tro núi lửa đã bị phân tán, trong khi vụ phun trào núi Tambora năm 1815, một trong những vụ phun trào lớn nhất trong lịch sử nhân loại, tổng cộng 80 km khối những mãnh tro bụi này đã lan rộng trên một khu vực rộng lớn.
Những vụ phun trào lớn này có tác động lên toàn địa cầu, như bầu khí quyển, khí hậuđộng vật hoang dã trên Trái Đất.

Phun trào nổ

Hoạt động núi lửa là một quá trình magma bị đẩy ra khỏi lớp vỏ của Trái Đất ra bề mặt. Núi lửa không ngẫu nhiên mà có; chúng tạo thành những chuỗi dài ở ranh giới của các mảng kiến tạo.
Hoạt động núi lửa có vai trò quan trọng trong việc hình thành núi. Magma là đá bị nóng chảy thành màu đỏ dưới bề mặt Trái đất. Magma trào lên bề mặt được gọi là dung nham, và núi lửa được hình thành nơi nào mà magma trào tới bề mặt. Núi lửa có thể được phân biệt dựa theo cách nó phun trào, bao gồm nổ, tràn hỗn hợp.

Phun trào nổ là đặc trưng của núi lửa hình nón. Loại phun trào này đi kèm với hơi nướckhí thoát ra bề mặt qua miệng núi lửa với những vụ nổ lớn, và nó tạo ra một cột phun trào caoluồng mạt vụn núi lửa. Gió có thể làm lan rộng đám mây bụi tro trên một khu vực lớn. Luồng mạt vụn núi lửa lăn xuống nón núi lửa với tốc độ cao. Đây là loại phun trào núi lửa tàn khốc nhất. Núi Krakatoa, Núi Pelée Núi St Helens là những ví dụ điển hình nhất về núi lửa có kiểu phun trào này.

Phun trào chảy là đặc trưng của núi lửa hình khiên. Loại phun trào này không kèm theo những vụ nổ hay luồng mạt vụn núi lửa; chất duy nhất nổi lên bề mặt là dung nham lỏng. Khi dung nham rắn lại, nó tạo ra một nón núi lửa. Ví dụ của các núi lửa có kiểu phun trào chảy này là núi Mauna Kea núi Mauna Loa, và cả hai đều thuộc quần đảo Hawaii.

Phun trào hỗn hợp là đặc trưng của núi lửa dạng tầng. Loại phun trào này đi kèm những vụ nổ và cả dòng dung nham. Nón núi lửa bao gồm các các lớp tro núi lửa, hoặc các mảnh vụn, xen kẽ với dung nham hóa rắn. Các ví dụ nổi tiếng nhất của núi lửa dạng tầng là Stromboli, núi Etna Cotopaxi.

Sau khi núi lửa phun trào, ta có thể thấy các hoạt động sau phun trào, mà cơ bản là hơi nướckhí được tạo thành từ các chất khác nhau thoát ra các lỗ hơi hay còn được gọi là miệng phun khí.

Miệng phun khí lưu huỳnh là một loại miệng phun khí; nó là một lỗ mở trên lớp vỏ Trái Đất thoát ra các loại khí lưu huỳnh.

Miệng phun khí các-bon là miệng thải ra khí các-bon đi-ô-xít. Một miệng phun khí các-bon có thể gọi là 'khô' nếu nó chứa các-bon đi-ô-xít hoặc 'ướt' nếu nó chứa nước có ga.

Miệng phun nước là một mạch nước phun ra nước nóng định kì. Điều này xảy ra bởi vì nước thấm vào và tích tụ trong các hốc nhỏ bên dưới mặt đất, sau đó bắt đầu sôi lên do sức nóng của magma, và cuối cùng phun trào.

Hoạt động núi lửa ở các khu vực đất sét sẽ kèm theo 'núi lửa bùn', nơi mà các loại khí được giải phóng bởi bùn lỏng dưới dạng bọt khí.

Các vụ phun trào núi lửa tàn khốc nhất làm phán tán một lượng lớn tro núi lửa.
Trong vụ phun trào Krakatoa năm 1883, 18 km khối tro núi lửa đã bị phân tán, trong khi vụ phun trào núi Tambora năm 1815, một trong những vụ phun trào lớn nhất trong lịch sử nhân loại, tổng cộng 80 km khối những mãnh tro bụi này đã lan rộng trên một khu vực rộng lớn.
Những vụ phun trào lớn này có tác động lên toàn địa cầu, như bầu khí quyển, khí hậuđộng vật hoang dã trên Trái Đất.

Phun trào chảy

Hoạt động núi lửa là một quá trình magma bị đẩy ra khỏi lớp vỏ của Trái Đất ra bề mặt. Núi lửa không ngẫu nhiên mà có; chúng tạo thành những chuỗi dài ở ranh giới của các mảng kiến tạo.
Hoạt động núi lửa có vai trò quan trọng trong việc hình thành núi. Magma là đá bị nóng chảy thành màu đỏ dưới bề mặt Trái đất. Magma trào lên bề mặt được gọi là dung nham, và núi lửa được hình thành nơi nào mà magma trào tới bề mặt. Núi lửa có thể được phân biệt dựa theo cách nó phun trào, bao gồm nổ, tràn hỗn hợp.

Phun trào nổ là đặc trưng của núi lửa hình nón. Loại phun trào này đi kèm với hơi nướckhí thoát ra bề mặt qua miệng núi lửa với những vụ nổ lớn, và nó tạo ra một cột phun trào caoluồng mạt vụn núi lửa. Gió có thể làm lan rộng đám mây bụi tro trên một khu vực lớn. Luồng mạt vụn núi lửa lăn xuống nón núi lửa với tốc độ cao. Đây là loại phun trào núi lửa tàn khốc nhất. Núi Krakatoa, Núi Pelée Núi St Helens là những ví dụ điển hình nhất về núi lửa có kiểu phun trào này.

Phun trào chảy là đặc trưng của núi lửa hình khiên. Loại phun trào này không kèm theo những vụ nổ hay luồng mạt vụn núi lửa; chất duy nhất nổi lên bề mặt là dung nham lỏng. Khi dung nham rắn lại, nó tạo ra một nón núi lửa. Ví dụ của các núi lửa có kiểu phun trào chảy này là núi Mauna Kea núi Mauna Loa, và cả hai đều thuộc quần đảo Hawaii.

Phun trào hỗn hợp là đặc trưng của núi lửa dạng tầng. Loại phun trào này đi kèm những vụ nổ và cả dòng dung nham. Nón núi lửa bao gồm các các lớp tro núi lửa, hoặc các mảnh vụn, xen kẽ với dung nham hóa rắn. Các ví dụ nổi tiếng nhất của núi lửa dạng tầng là Stromboli, núi Etna Cotopaxi.

Sau khi núi lửa phun trào, ta có thể thấy các hoạt động sau phun trào, mà cơ bản là hơi nướckhí được tạo thành từ các chất khác nhau thoát ra các lỗ hơi hay còn được gọi là miệng phun khí.

Miệng phun khí lưu huỳnh là một loại miệng phun khí; nó là một lỗ mở trên lớp vỏ Trái Đất thoát ra các loại khí lưu huỳnh.

Miệng phun khí các-bon là miệng thải ra khí các-bon đi-ô-xít. Một miệng phun khí các-bon có thể gọi là 'khô' nếu nó chứa các-bon đi-ô-xít hoặc 'ướt' nếu nó chứa nước có ga.

Miệng phun nước là một mạch nước phun ra nước nóng định kì. Điều này xảy ra bởi vì nước thấm vào và tích tụ trong các hốc nhỏ bên dưới mặt đất, sau đó bắt đầu sôi lên do sức nóng của magma, và cuối cùng phun trào.

Hoạt động núi lửa ở các khu vực đất sét sẽ kèm theo 'núi lửa bùn', nơi mà các loại khí được giải phóng bởi bùn lỏng dưới dạng bọt khí.

Các vụ phun trào núi lửa tàn khốc nhất làm phán tán một lượng lớn tro núi lửa.
Trong vụ phun trào Krakatoa năm 1883, 18 km khối tro núi lửa đã bị phân tán, trong khi vụ phun trào núi Tambora năm 1815, một trong những vụ phun trào lớn nhất trong lịch sử nhân loại, tổng cộng 80 km khối những mãnh tro bụi này đã lan rộng trên một khu vực rộng lớn.
Những vụ phun trào lớn này có tác động lên toàn địa cầu, như bầu khí quyển, khí hậuđộng vật hoang dã trên Trái Đất.

Phun trào hỗn hợp

Hoạt động núi lửa là một quá trình magma bị đẩy ra khỏi lớp vỏ của Trái Đất ra bề mặt. Núi lửa không ngẫu nhiên mà có; chúng tạo thành những chuỗi dài ở ranh giới của các mảng kiến tạo.
Hoạt động núi lửa có vai trò quan trọng trong việc hình thành núi. Magma là đá bị nóng chảy thành màu đỏ dưới bề mặt Trái đất. Magma trào lên bề mặt được gọi là dung nham, và núi lửa được hình thành nơi nào mà magma trào tới bề mặt. Núi lửa có thể được phân biệt dựa theo cách nó phun trào, bao gồm nổ, tràn hỗn hợp.

Phun trào nổ là đặc trưng của núi lửa hình nón. Loại phun trào này đi kèm với hơi nướckhí thoát ra bề mặt qua miệng núi lửa với những vụ nổ lớn, và nó tạo ra một cột phun trào caoluồng mạt vụn núi lửa. Gió có thể làm lan rộng đám mây bụi tro trên một khu vực lớn. Luồng mạt vụn núi lửa lăn xuống nón núi lửa với tốc độ cao. Đây là loại phun trào núi lửa tàn khốc nhất. Núi Krakatoa, Núi Pelée Núi St Helens là những ví dụ điển hình nhất về núi lửa có kiểu phun trào này.

Phun trào chảy là đặc trưng của núi lửa hình khiên. Loại phun trào này không kèm theo những vụ nổ hay luồng mạt vụn núi lửa; chất duy nhất nổi lên bề mặt là dung nham lỏng. Khi dung nham rắn lại, nó tạo ra một nón núi lửa. Ví dụ của các núi lửa có kiểu phun trào chảy này là núi Mauna Kea núi Mauna Loa, và cả hai đều thuộc quần đảo Hawaii.

Phun trào hỗn hợp là đặc trưng của núi lửa dạng tầng. Loại phun trào này đi kèm những vụ nổ và cả dòng dung nham. Nón núi lửa bao gồm các các lớp tro núi lửa, hoặc các mảnh vụn, xen kẽ với dung nham hóa rắn. Các ví dụ nổi tiếng nhất của núi lửa dạng tầng là Stromboli, núi Etna Cotopaxi.

Sau khi núi lửa phun trào, ta có thể thấy các hoạt động sau phun trào, mà cơ bản là hơi nướckhí được tạo thành từ các chất khác nhau thoát ra các lỗ hơi hay còn được gọi là miệng phun khí.

Miệng phun khí lưu huỳnh là một loại miệng phun khí; nó là một lỗ mở trên lớp vỏ Trái Đất thoát ra các loại khí lưu huỳnh.

Miệng phun khí các-bon là miệng thải ra khí các-bon đi-ô-xít. Một miệng phun khí các-bon có thể gọi là 'khô' nếu nó chứa các-bon đi-ô-xít hoặc 'ướt' nếu nó chứa nước có ga.

Miệng phun nước là một mạch nước phun ra nước nóng định kì. Điều này xảy ra bởi vì nước thấm vào và tích tụ trong các hốc nhỏ bên dưới mặt đất, sau đó bắt đầu sôi lên do sức nóng của magma, và cuối cùng phun trào.

Hoạt động núi lửa ở các khu vực đất sét sẽ kèm theo 'núi lửa bùn', nơi mà các loại khí được giải phóng bởi bùn lỏng dưới dạng bọt khí.

Các vụ phun trào núi lửa tàn khốc nhất làm phán tán một lượng lớn tro núi lửa.
Trong vụ phun trào Krakatoa năm 1883, 18 km khối tro núi lửa đã bị phân tán, trong khi vụ phun trào núi Tambora năm 1815, một trong những vụ phun trào lớn nhất trong lịch sử nhân loại, tổng cộng 80 km khối những mãnh tro bụi này đã lan rộng trên một khu vực rộng lớn.
Những vụ phun trào lớn này có tác động lên toàn địa cầu, như bầu khí quyển, khí hậuđộng vật hoang dã trên Trái Đất.

Hoạt động sau phun trào

Hoạt động núi lửa là một quá trình magma bị đẩy ra khỏi lớp vỏ của Trái Đất ra bề mặt. Núi lửa không ngẫu nhiên mà có; chúng tạo thành những chuỗi dài ở ranh giới của các mảng kiến tạo.
Hoạt động núi lửa có vai trò quan trọng trong việc hình thành núi. Magma là đá bị nóng chảy thành màu đỏ dưới bề mặt Trái đất. Magma trào lên bề mặt được gọi là dung nham, và núi lửa được hình thành nơi nào mà magma trào tới bề mặt. Núi lửa có thể được phân biệt dựa theo cách nó phun trào, bao gồm nổ, tràn hỗn hợp.

Phun trào nổ là đặc trưng của núi lửa hình nón. Loại phun trào này đi kèm với hơi nướckhí thoát ra bề mặt qua miệng núi lửa với những vụ nổ lớn, và nó tạo ra một cột phun trào caoluồng mạt vụn núi lửa. Gió có thể làm lan rộng đám mây bụi tro trên một khu vực lớn. Luồng mạt vụn núi lửa lăn xuống nón núi lửa với tốc độ cao. Đây là loại phun trào núi lửa tàn khốc nhất. Núi Krakatoa, Núi Pelée Núi St Helens là những ví dụ điển hình nhất về núi lửa có kiểu phun trào này.

Phun trào chảy là đặc trưng của núi lửa hình khiên. Loại phun trào này không kèm theo những vụ nổ hay luồng mạt vụn núi lửa; chất duy nhất nổi lên bề mặt là dung nham lỏng. Khi dung nham rắn lại, nó tạo ra một nón núi lửa. Ví dụ của các núi lửa có kiểu phun trào chảy này là núi Mauna Kea núi Mauna Loa, và cả hai đều thuộc quần đảo Hawaii.

Phun trào hỗn hợp là đặc trưng của núi lửa dạng tầng. Loại phun trào này đi kèm những vụ nổ và cả dòng dung nham. Nón núi lửa bao gồm các các lớp tro núi lửa, hoặc các mảnh vụn, xen kẽ với dung nham hóa rắn. Các ví dụ nổi tiếng nhất của núi lửa dạng tầng là Stromboli, núi Etna Cotopaxi.

Sau khi núi lửa phun trào, ta có thể thấy các hoạt động sau phun trào, mà cơ bản là hơi nướckhí được tạo thành từ các chất khác nhau thoát ra các lỗ hơi hay còn được gọi là miệng phun khí.

Miệng phun khí lưu huỳnh là một loại miệng phun khí; nó là một lỗ mở trên lớp vỏ Trái Đất thoát ra các loại khí lưu huỳnh.

Miệng phun khí các-bon là miệng thải ra khí các-bon đi-ô-xít. Một miệng phun khí các-bon có thể gọi là 'khô' nếu nó chứa các-bon đi-ô-xít hoặc 'ướt' nếu nó chứa nước có ga.

Miệng phun nước là một mạch nước phun ra nước nóng định kì. Điều này xảy ra bởi vì nước thấm vào và tích tụ trong các hốc nhỏ bên dưới mặt đất, sau đó bắt đầu sôi lên do sức nóng của magma, và cuối cùng phun trào.

Hoạt động núi lửa ở các khu vực đất sét sẽ kèm theo 'núi lửa bùn', nơi mà các loại khí được giải phóng bởi bùn lỏng dưới dạng bọt khí.

Các vụ phun trào núi lửa tàn khốc nhất làm phán tán một lượng lớn tro núi lửa.
Trong vụ phun trào Krakatoa năm 1883, 18 km khối tro núi lửa đã bị phân tán, trong khi vụ phun trào núi Tambora năm 1815, một trong những vụ phun trào lớn nhất trong lịch sử nhân loại, tổng cộng 80 km khối những mãnh tro bụi này đã lan rộng trên một khu vực rộng lớn.
Những vụ phun trào lớn này có tác động lên toàn địa cầu, như bầu khí quyển, khí hậuđộng vật hoang dã trên Trái Đất.

Narration

Hoạt động núi lửa là một quá trình magma bị đẩy ra khỏi lớp vỏ của Trái Đất ra bề mặt. Núi lửa không ngẫu nhiên mà có; chúng tạo thành những chuỗi dài ở ranh giới của các mảng kiến tạo.
Hoạt động núi lửa có vai trò quan trọng trong việc hình thành núi. Magma là đá bị nóng chảy thành màu đỏ dưới bề mặt Trái đất. Magma trào lên bề mặt được gọi là dung nham, và núi lửa được hình thành nơi nào mà magma trào tới bề mặt. Núi lửa có thể được phân biệt dựa theo cách nó phun trào, bao gồm nổ, tràn hỗn hợp.

Phun trào nổ là đặc trưng của núi lửa hình nón. Loại phun trào này đi kèm với hơi nướckhí thoát ra bề mặt qua miệng núi lửa với những vụ nổ lớn, và nó tạo ra một cột phun trào caoluồng mạt vụn núi lửa. Gió có thể làm lan rộng đám mây bụi tro trên một khu vực lớn. Luồng mạt vụn núi lửa lăn xuống nón núi lửa với tốc độ cao. Đây là loại phun trào núi lửa tàn khốc nhất. Núi Krakatoa, Núi Pelée Núi St Helens là những ví dụ điển hình nhất về núi lửa có kiểu phun trào này.

Phun trào chảy là đặc trưng của núi lửa hình khiên. Loại phun trào này không kèm theo những vụ nổ hay luồng mạt vụn núi lửa; chất duy nhất nổi lên bề mặt là dung nham lỏng. Khi dung nham rắn lại, nó tạo ra một nón núi lửa. Ví dụ của các núi lửa có kiểu phun trào chảy này là núi Mauna Kea núi Mauna Loa, và cả hai đều thuộc quần đảo Hawaii.

Phun trào hỗn hợp là đặc trưng của núi lửa dạng tầng. Loại phun trào này đi kèm những vụ nổ và cả dòng dung nham. Nón núi lửa bao gồm các các lớp tro núi lửa, hoặc các mảnh vụn, xen kẽ với dung nham hóa rắn. Các ví dụ nổi tiếng nhất của núi lửa dạng tầng là Stromboli, núi Etna Cotopaxi.

Sau khi núi lửa phun trào, ta có thể thấy các hoạt động sau phun trào, mà cơ bản là hơi nướckhí được tạo thành từ các chất khác nhau thoát ra các lỗ hơi hay còn được gọi là miệng phun khí.

Miệng phun khí lưu huỳnh là một loại miệng phun khí; nó là một lỗ mở trên lớp vỏ Trái Đất thoát ra các loại khí lưu huỳnh.

Miệng phun khí các-bon là miệng thải ra khí các-bon đi-ô-xít. Một miệng phun khí các-bon có thể gọi là 'khô' nếu nó chứa các-bon đi-ô-xít hoặc 'ướt' nếu nó chứa nước có ga.

Miệng phun nước là một mạch nước phun ra nước nóng định kì. Điều này xảy ra bởi vì nước thấm vào và tích tụ trong các hốc nhỏ bên dưới mặt đất, sau đó bắt đầu sôi lên do sức nóng của magma, và cuối cùng phun trào.

Hoạt động núi lửa ở các khu vực đất sét sẽ kèm theo 'núi lửa bùn', nơi mà các loại khí được giải phóng bởi bùn lỏng dưới dạng bọt khí.

Các vụ phun trào núi lửa tàn khốc nhất làm phán tán một lượng lớn tro núi lửa.
Trong vụ phun trào Krakatoa năm 1883, 18 km khối tro núi lửa đã bị phân tán, trong khi vụ phun trào núi Tambora năm 1815, một trong những vụ phun trào lớn nhất trong lịch sử nhân loại, tổng cộng 80 km khối những mãnh tro bụi này đã lan rộng trên một khu vực rộng lớn.
Những vụ phun trào lớn này có tác động lên toàn địa cầu, như bầu khí quyển, khí hậuđộng vật hoang dã trên Trái Đất.

Bổ sung liên quan

Quá trình phong hóa vật lý

Khi phong hóa vật lý, đá chỉ rơi thành từng mảnh, trong khi thời tiết hóa học, cấu trúc hóa học...

Thảo nguyên châu Phi

Thảo nguyên tiếp giáp lớn nhất trên thế giới là ở châu Phi. Nó bao gồm khoảng một phần ba lục địa.

Khoáng sản

Đá là một thành phần của khoáng sản. Những khoáng chất thường có thể được tìm thấy ở dạng tinh...

Các vùng khí hậu

Trái đất được chia thành các khu vực địa lý và vùng khí hậu và điều này dẫn đến sự phân...

Tham gia đoàn lữ hành!

Bài học này trình bày các sa mạc và hệ động thực vật của chúng.

Lịch Gregorian

Được phát triển gần 500 năm trước, nó là một biến thể của lịch Julian. Ngày nay nó là lịch được...

Đường đứt gãy Baikal

Hồ sâu nhất trên Trái đất được hình thành trong một thung lũng tách giãn được tạo ra bởi Khu vực...

Added to your cart.